Hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao tỷ lệ nội địa hoá

Doanh nghiệp trong nước và cả doanh nghiệp FDI phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu nguyên vật liệu, các sản phẩm trung gian, máy móc thiết bị sản xuất; đây là một trong những nguyên nhân dễ dẫn đến các vụ kiện phòng vệ thương mại.

tỷ lệ nội địa hoá

Động lực hình thành thị trường

Tỷ lệ nội địa hoá phản ánh mức độ tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước. Mặc dù các ngành công nghiệp dệt may, da giày, đồ gỗ, điện thoại di động, điện tử và máy tính, phương tiện vận tải và phụ tùng… được cho là đã gia nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng không được đánh giá cao do tỷ lệ nội địa hoá trong nước chưa nhiều. Thành công nhất cho đến lúc này là ngành công nghiệp xe máy, với công suất 3 triệu chiếc mỗi năm, tỷ lệ nội địa hoá cao, xuất khẩu đi hơn 20 quốc gia. Thành công của xe máy nước ta được giải thích bằng lý do kinh tế: quy mô thị trường lớn thứ tư thế giới; tỷ lệ người dân sở hữu xe máy đứng thứ hai thế giới. Đây là động lực cho việc hình thành một thị trường linh kiện, phụ kiện xe máy khủng khiếp, cho phép đẩy nhanh quá trình nội địa hóa ngành công nghiệp béo bở này tiến sát ngưỡng 90%.

Tuy nhiên, trong một thế giới liên thông như ngày nay, và trong điều kiện một nước đã ký 15 FTAs với các đối tác ở hầu hết các châu lục như nước ta, yếu tố thị trường (nội địa) không còn có ý nghĩa quyết định, mà nhường chỗ cho vai trò năng lực của doanh nghiệp. Hiện năng lực của doanh nghiệp nước ta không cao. Cuộc khảo sát mới đây của WB Việt Nam với gần 1000 doanh nghiệp cho thấy, năng suất của doanh nghiệp Việt Nam khoảng 10.500 USD/năm trên mỗi nhân công, nằm ở mức trung bình trong khu vực, tương đương với Philippines, Indonesia, chỉ thua Singapore và Malaysia. Song mức độ thâm dụng vốn thuộc vào hàng cao nhất khu vực, khoảng 6.600 USD trên mỗi nhân công. Điều đó có nghĩa là năng suất vốn, được tính bằng giá trị gia tăng/vốn, của doanh nghiệp nước ta thuộc loại thấp nhất trong khu vực, chỉ đạt 160%, so với 200% của Lào và Myanmar, 210% của Philippines, 500% của Malaysia.

Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm gần 40% tổng doanh thu thuần sản xuất - kinh doanh của nền kinh tế, tuy nhiên chỉ chiếm gần 16,5% tỷ trọng trong GDP, thấp hơn rất nhiều so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp nước ta vẫn đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2-3 thế hệ. Trong cơ cấu tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo, công nghệ thấp và trung bình chiếm đến hơn 60%.

Mặc dù vậy, các doanh nghiệp công nghiệp, gồm cả những doanh nghiệp nhà nước lớn cũng chưa thực sự quan tâm đầu tư thỏa đáng cho đổi mới công nghệ, cũng như không có khả năng, không đủ nguồn lực đầu tư cho công nghệ. Tỷ lệ đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam là dưới 0,5% doanh thu, trong khi Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc 10%. Tỷ lệ đổi mới máy móc, thiết bị hàng năm chỉ đạt khoảng 10% trong 5 năm qua (các nước khác trong khu vực có khoảng 15-20%).

Do đó, doanh nghiệp trong nước và cả doanh nghiệp FDI phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu nguyên vật liệu, các sản phẩm trung gian, máy móc thiết bị sản xuất; đây là nguyên nhân dễ dẫn đến tỷ lệ nội địa hoá thấp. Các ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, điện tử nhập khẩu từ 70% đến 90% nguyên liệu. Một hướng khảo sát khác cho thấy, có 23% doanh nghiệp Việt Nam đã giới thiệu sản phẩm mới trong 3 năm trở lại đây, cũng là mức trung bình so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, một tỷ lệ lớn của việc đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam là nhằm cắt giảm chi phí, rất ít trong số đó là để giới thiệu những tính năng hoàn toàn mới. Đồng thời, chỉ có 4% doanh nghiệp nước ta mua bằng sáng chế để phát triển sản phẩm, bằng khoảng 1/3 đến ½ so với Philippin, Thái Lan và Malaysia.

Những điều trên dẫn đến, tỷ lệ doanh nghiệp FDI sử dụng đầu vào ở nước ta thấp hơn đáng kể so với một số nước trong khu vực. Trong khi 80-90% các doanh nghiệp FDI ở Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan sử dụng đầu vào trong nước thì chỉ có khoảng 2/3 doanh nghiệp FDI ở Việt Nam làm như vậy. Hệ quả cuối cùng là sự lan tỏa của doanh nghiệp FDI ở nước ta không cao, doanh nghiệp trong nước ít tham gia và tham gia không sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là sự “thất bại của thị trường” - tức là để thị trường tự điều tiết.

Nâng cao tỷ lệ nội địa hoá

Khi thị trường thất bại thì Nhà nước sẽ can thiệp, theo hai hướng. Thứ nhất, từ trên xuống, tức tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi. Cụ thể như quy định các chính sách hỗ trợ phát triển năng lực cạnh tranh cho các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong đó chủ yếu là các chính sách hỗ trợ về tín dụng, nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống thống kê công nghiệp để hỗ trợ liên kết doanh nghiệp, hợp tác quốc tế về công nghiệp, phát triển bền vững trong công nghiệp... đang đến hồi cấp bách và cần thiết.

Đồng thời có cơ chế phát triển thị trường cho các sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo, thông qua các dự án đầu tư công, hợp tác công - tư (PPP), mua sắm của chính phủ... phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Hướng can thiệp này tạo ra nền tảng cơ bản nhưng không đủ sức nhằm thẳng vào mục tiêu tạo sự kết nối  mạnh mẽ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Vì thế, cùng với can thiệp từ trên xuống, có hướng thứ hai - từ dưới lên, hướng hẳn sự hỗ trợ vào nhóm doanh nghiệp được lựa chọn.

Công ty sản xuất điện tử Thành Long là một ví dụ điển hình. Đầu tiên, Thành Long nằm trong nhóm doanh nghiệp được lựa chọn để nhận sự hỗ trợ kỹ thuật từ JICA và SIDEC. Qua đó, công ty được tập huấn các kỹ năng quản lý 5S và Kaizen; được trợ giúp tham gia các hội chợ ở châu Âu, được thông tin về nhu cầu của người mua, tức các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam… Sự tiến bộ về công nghệ, quản trị và thông tin khiến Thành Long từ một nhà cung cấp cấp 2 cho Jaguar Việt Nam tiến lên vị trí là nhà cung cấp bảng mạch in cấp 1 cho Canon và đang hoàn tất để trở thành nhà cung cấp cấp 1 cho Samsung.

Thành công của Thành Long và một số doanh nghiệp trong ngành công nghiệp điện tử, ô tô cho thấy 2 điều. Một là, việc hỗ trợ của nhà nước phải nhằm đến những doanh nghiệp được lựa chọn cẩn thận, có đủ năng lực, khát vọng và quy mô nhất định. Các doanh nghiệp nhỏ thường không được các doanh nghiệp FDI “để mắt”, do đó, hỗ trợ những đối tượng này sẽ khó đạt mục tiêu kết nối. Một khảo sát mới đây của WB Việt Nam cho thấy, hỗ trợ các công ty có quy mô từ trung bình trở lên có nhiều khả năng đạt được sự tin cậy cần thiết cho sự liên kết, dễ được các công ty FDI chấp nhận hơn là các công ty nhỏ. Hai là, việc hỗ trợ này không chỉ giúp một, một vài doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng, mà có tác động lan tỏa đến khát vọng của hàng trăm, hàng ngàn doanh nghiệp đi theo con đường này. Kết quả cuối cùng là, tạo ra phong trào “chạy đua” vào kỷ nguyên của chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của doanh nghiệp.

Nguồn: Tapchicongthuong.vn

ĐĂNG KÝ HỘI VIÊN

Vui lòng đọc kĩ nội dung Thư mời gia nhập hội
Điền đầy đủ thông tin vào đơn gia nhập hội và gửi về địa chỉ bên dưới

  • Address: 183H Dương Quảng Hàm, P. 5, Q.Gò Vấp
  • Phone: (08) 6 2973 567 - Fax : (08) 62 973 540
  • Website: http://agtek.org.vn/